- Lộ giới: 10,0m; Lòng đường: 6m, vỉa hè 2x2m, độ dài 605m, kết cấu mặt đường Bê tông.
- Điểm đầu: giáp đường Dương Văn Thà, khóm 6, phường 1; Điểm cuối: đường số 10, khóm 6, phường 1.
Nguyễn Vĩnh Nghiệp (1930 - 2007)
Là một Anh hùng Lao động của Việt Nam. Tuy ông từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng nhiều người biết ông như là một nhà hoạt động xã hội, người sáng lập và là chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông còn có các tên gọi khác là Sáu Tường, Ba Công, Tám Kiến, Mười Bền, sinh năm 1930 tại xã An Xuyên, tổng Quản Long, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau), trong một gia đình trung nông. Sau năm Mậu Thân 1968, gia đình ông di cư về ấp Ba Tiệm xã Phú Mỹ huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau cho đến ngày nay. Ngay tại nơi gia đình ông sinh sống, hiện nay, ngôi trường THCS mang tên ông nằm ngay trên mảnh đất được người nhà của ông hiến tặng để xây dựng trường học.
Tháng 8 năm 1945, khi Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền, ông tham gia Ủy ban Nhi đồng Cứu vong, rồi làm Cán bộ Thanh niên phụ trách Thiếu nhi xã Phú Mỹ, cán bộ Mặt trận Việt Minh. Tháng 12 năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Chính thức: tháng 3 năm 1948), làm cán bộ Huyện ủy huyện Ngọc Hiển.
Từ tháng 12 năm 1950 đến 1952, ông lần lượt giữ các chức vụ Huyện ủy viên huyện Ngọc Hiển phụ trách Tuyên huấn, Trường Đảng, Giám đốc Trường Bổ túc Văn hóa. Từ 1953 đến 1955, ông là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng Thông tin Ban Văn nghệ huyện Ngọc Hiển.
Sau Hiệp định Genève, ông không tập kết ra Bắc mà được Xứ ủy giao nhiệm vụ bí mật ở lại miền Nam,
Từ năm 1956 đến tháng 8 năm 1959, lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư rồi Bí thư thị xã Bạc Liêu, Bí thư thị xã Sóc Trăng, Tỉnh ủy viên Sóc Trăng.
Tháng 9 năm 1959, sau khi Nghị quyết 15 phổ biến vào Xứ ủy Nam Bộ, ông được Xứ ủy điều về công tác ở Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Tháng 5 năm 1960, ông bị Đoàn công tác đặc biệt miền Trung của chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam vì phát hiện ông có dính líu đến các hoạt động chống chính quyền, mãi đến tháng 1 năm 1964, sau khi các tướng làm đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, rồi tướng Nguyễn Khánh "chỉnh lý" lật đổ các tướng, ông mới có cơ hội thoát ra do sự rối loạn của chính quyền.
Mãi đến cuối tháng 8 năm 1964, ông mới móc nối lại được với tổ chức và trở lại công tác trong Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, lần lượt giữ các chức vụ: Ủy viên Thường vụ, Phó Bí thư Ban Cán sự cánh đô thị; Ủy viên Thường vụ Phân Khu ủy Phân khu 5.
Từ năm 1967 đến năm 1969: Khu ủy viên dự khuyết, Phó Bí thư Phân Khu ủy cánh đô thị; Bí thư Ban Cán sự đô thị – Phân khu 1; Bí thư Liên Quận ủy quận 4.
Từ năm 1970 đến 1975: Khu ủy viên, Trưởng Phân ban Đông Bắc; Bí thư Phân ban Thành ủy nội thành; Bí thư, Chủ tịch quận Bình Hòa.
Từ tháng 6 năm 1975, ông giữ các chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, phụ trách khối Dân vận Mặt trận, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy thành phố Sài Gòn (sau đổi thành Thành phố Hồ Chí Minh).
Từ tháng 10 năm 1980 đến tháng 10 năm 1986: Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Nông nghiệp Thành ủy, Trưởng Phân ban Nông thôn Thành ủy; Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân TP phụ trách Nông nghiệp Thành ủy.
Từ tháng 10 năm 1986, ông giữ chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân TP, Trưởng ban Kinh tế Đối ngoại thành phố.
Dưới sự hậu thuẫn của tân Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (nguyên Bí thư Thành ủy), ông cùng các lãnh đạo thành phố bắt đầu thực hiện các bước "Đổi mới" của Đại hội VI.
Tháng 4 năm 1987, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 8, Tháng 3 năm 1989, ông được cử làm quyền Chủ tịch ủy ban nhân dân TP, thay cho Chủ tịch Phan Văn Khải ra Trung ương nhận chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.
Tháng 5 năm 1989 ông được bầu làm Chủ tịch ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và giữ chức vụ này cho đến năm 1992.
Tháng 3 năm 1992, ông xin từ chức với lý do sức khỏe vì bệnh viêm thanh quản. Ông qua đời vào ngày 16 tháng 8 năm 2007.